Sự ra đời của AFTA

Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế thế giới đã đặt ra những thử thách to lớn không thể vượt qua với hiệp hôị các quốc gia Đông Nam á. Nếu không có sự cố gắng chung của toàn hiệp hội , đó là sự xuất hiện của những tổ chức hợp tác khu vực như EU,NAFTA mà ASEAN e ngại sẽ trở thành các khối thương mại khép kín. Do đó sẽ làm cho hàng hoá của ASEAN vấp phải những trở ngại khi thâm nhập các thị trường này. Mặt khác AEAN đang mất dần lợi thế so ánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực để thu hút đầu tư nước ngoài so với Trung Quốc, Nga và các nước Đông Âu. Kinh tế ASEAN tăng trưởng với nhịp độ cao nhưng vẫn phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài. Năm 1992 theo sáng kiến của Thái lan , hội nghị thượng đỉnh các nước ASEAN họp tại Singapo đã quyết định thành lập khối mậu dịch tự do Asean: AFTA với ba mục tiêu cơ bản:

Để biến ASEAN thành khu vực mậu dịch tự do và thực hiện các mục tiêu của AFTA thì các nước thành viên đã kí kết Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT. Đây là động lực quan trọng nhất. Nội dung của CEPT là trong vòng 10 năm (19 93-2003) giảm thuế quan trong thương mại nội bộ Asean xuống còn từ 0- 5% đối với sáu nước thành viên cũ Asean vào năm 2006 đối với Việt Nam và muộn hơn với Lào, Campuchia đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi thuế quan. Để thực hiện chương trình giảm thuế này, toàn bộ các mặt hàng trong doanh mục biểu thuế quan của mỗi nước được chia vào 4 danh mục sau:

Bên cạnh việc cắt giảm thuế quan ,CEPT còn quy định việc xoá bỏ hạn chế về số lượng nhập khẩu , các rào cản phi thuế quan khác và lĩnh vực hợp tác trong lĩnh vực hải quan.

Hiệp định CEPT áp dụng mọi sản phẩm chế tạo kể cả sản phẩm nông sản. Muốn được hưởng ưu đãi giảm thuế trong khuôn khổ CEPT cần thoả mãn hai điều kiện sau.

  1. Phải là sản phẩm nằm trong doanh mục sản phẩm giảm thuế và được hội đồng AFTA xác nhận.
  2. Các sản phẩmphải có tối thiểu 40%giá trị được chế tạo từ các nước thành viên Asean.
  3. Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế của cả nước nhập và nước xuất khẩu, và phải có mức thuế quan(nhập khẩu)bằng hoặc thấp hơn 20%.

Nguyễn Thành Nam