Chính sách tái chiết khấu

Về thực chất chính sách tái chiết khấu là toàn bộ các qui định và điều kiện cho vay của Ngân hàng Trung ương đối với các ngân hàng thương mại là một hệ thống có hoạt động cung cấp một lượng vốn lớn đáp ứng nhu cầu của xã hội bằng cách đi huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư. Họ sẽ nhận tiền gửi và lấy khoản tiền đó cho người có nhu cầu cần vay người ta gọi đó là hoạt động tín dụng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên khi tiến hành kinh doanh trong điều kiện cơ chế thị trường không phải ngân hàng nào cũng có thể hoạt động một cách trôi chảy do điều kiện cạnh tranh giữa ngân hàng này và ngân hàng khác. Nhiều khi có những biến động bất thường mà các ngân hàng chưa hoặc không thể xoay sở kịp vốn hoặc dự trữ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng lúc đó các ngân hàng này buộc phải đi tìm nguồn vốn bổ sung từ  các ngân hàng khác hoặc từ Ngân hàng Trung ương để bảo đảm kinh doanh. Trên cơ sở các ngân hàng thương mại yêu cầu mình cho vay khoản tiền nào đó, ngân hàng trung ương sẽ xem xét và đưa ra quyết định có cho các Ngân hàng thương mại vay hay không. ở Mỹ, quỹ dự trữ liên bang (Fed) cấp cho các ngân hàng 3 loại cho vay chiết khấu. Tín dụng điều chỉnh, tín dụng thời vụ và tín dụng mở rộng. Cho vay tín dụng điều chỉnh, một loại thông dụng nhất nhằm giúp các ngân hàng giải quyết vấn đề khả năng hoàn trả ngắn hạn do tiền gửi bị tạm thời rút ra. Tín dụng điều chỉnh được cấp bằng một cú điện thoại sẽ được hoàn trả khá nhanh chóng – vào cuối ngày làm việc sau đối với các ngân hàng lớn. Tín dụng thời vụ được cấp để đáp ứng các nhu cầu thời vụ của một số ít ngân hàng đang nghỉ và của những vùng nông nghiệp hoạt động theo thời vụ. Tín dụng mở được cấp cho các ngân hàng bị khó khăn nghiêm trọng về khả năng hoàn trả do tiền gửi bị rút ra thì kh1ông yêu cầu phải hoàn trả nhanh chóng ngay (1).

Chính sách tái chiết khấu do Ngân hàng Trung ương qui định với mục đích kiểm soát được vốn mình cho vay, tránh cho khoản vốn vay đó không để bị sử dụng sai mục đích. Vì mỗi một khoản vay sẽ làm cho lượng vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại tăng lên và tương ứng là mức cung tiền trong lưu thông cũng sẽ tăng lên. Như vậy khả năng kiểm soát tiền tệ sẽ gặp khó khăn nếu Ngân hàng Trung ương không hạn chế các khoản vay đó. Ngoài ra chính sách này cũng có hiệu ứng thông báo đối với các ngân hàng khi Ngân hàng Trung ương đưa ra mức lãi suất tái chiết khấu của mình. Nhìn vào mức lãi suất và điều kiện tái chiết khấu, các ngân hàng có thể dự đoán được mục tiêu sắp tới, hướng điều hành của chính sách tiền tệ trong thời gian tới, nó sẽ tự điều chỉnh hoạt động của mình để tránh những khó khăn có thể vấp phải trong tương lai. Chính sách tái chiết khấu không những thể hiện được vai trò của Ngân hàng Trung ương trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng mà nó còn thể hiện vị trí không thể thiếu được của Ngân hàng Trung ương trong hệ thống ngân hàng đó là cứu cánh cho vay cuối cùng. Khi cho vay thông qua tái chiết khấu Ngân hàng Trung ương là người cuối cùng có thể cung cấp dự trữ cho hệ thống ngân hàng khi các sự phá sản của ngân hàng đe doạ thoát khỏi sự kiểm soát do đó mà ngăn chặn xảy ra những cuộc sụp đổ ngân hàng và tài chính.

ở Việt Nam chính sách tái chiết khấu cũng đã được sử dụng trong điều hành chính sách tiền tệ. Tuy nhiên nó không được sử dụng như là một công cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ mặc dù pháp luật về ngân hàng và các tổ chức tín dụng đã có những qui định hướng dẫn trong điều 57 về chiết khấu tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. Nguyên nhân chủ chốt của vấn đề này đó là ở Việt Nam chưa hội đủ những điều kiện để có thể tiến hành hoạt động này. Trước tiên đó là hoạt động chiết khấu thương phiếu của các ngân hàng thương mại còn hạn hẹp từ khi có quyết định số 198/QĐ-NH5 ngày 16/09/1994 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành thể lệ tín dụng ngắn hạn cũng đã có quy định về “ chiết khấu chứng từ có giá”  nhưng cho đến nay nghiệp vụ này của ngân hàng thương mại hầu như không đáng kể, chủ yếu chỉ là mua các tín phiếu, trái phiếu ngắn hạn của nhà nước chưa đến hạn (1). Trong khi đó thương phiếu – công cụ tài chính quan trọng nhất trong sản xuất kinh doanh lại là hình thức công cụ tài chính chưa phát triển ở Việt Nam. Chúng ta mới chỉ có trái phiếu kho bạc, trái phiếu ngắn hạn vì vậy phát triển hình thức tín dụng mới này còn gặp nhiều khó khăn. Để khắc phục điều này, đa dạng hoá các công cụ tài chính để làm cơ sở cho tín dụng ngân hàng sẽ là một bước đột1 biến làm thay đổi hoạt động của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh vấn đề công cụ tài chính, một yếu tố nữa không kém phần quan trọng đó là từ khi có quyết định 198 về chứng từ có giá cho đến nay khi Luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng được thi hàng 01/10/1998 thì các qui định và hướng dẫn nghiệp vụ còn chung chung. Đặc biệt là chưa có tiêu chí xác định phân loại các chứng từ có giá để có thể áp dụng vào nghiệp vụ này. Mặt khác kinh tế nước ta chủ yếu là sản xuất nhỏ chưa đạt đến được nền sản xuất lớn hiện đại và qui mô vừa mới tiếp cận với cơ chế thị trường qua mười năm đổi mới trong khi đó nghiệp vụ này là rất cần thiết với nền kinh tế trong thời kỳ phát triển. Vì vậy những bước chuẩn bị về luật pháp cũng như quá trình phát triển kinh tế là điều kiện để nghiệp vụ này được mở rộng và phát triển trong một thời gian không xa.

Với những ưu điểm như vậy, chính sách tái chiết khấu liệu có còn điều gì hạn chế hay không ? với khả năng định hướng và thông báo trước, chính sách tái chiết khấu đưa ra các quy định về lãi suất chiết khấu và điều kiện chiết khấu, nó có tác dụng không những về kiểm soát tiền tệ mà còn có tác dụng hướng dẫn thị trường đôi khi còn vì những mục đích chính trị xen lẫn vào. Như thế thì chỉ có những loại giấy tờ có giá có những tiêu chuẩn phù hợp với định hướng và chính sách đã đề ra thì mới được tái chiết khấu và nếu trong một thời gian nào đó có sự thay đổi đặc biệt ở mức lãi suất thì việc cung ứng tiền tệ không những không đi đúng hướng mà còn rơi vào tình trạng khó có thể kiểm soát được. Hơn nữa công cụ này có khả năng điều tiết các mục tiêu trung gian nhưng khi sử dụng có Ngân hàng Trung ương không kiểm soát hoàn hảo được lượng tiền cung ứng. Đó là công cụ mang tác động một chiều, nó phụ thuộc vào mức độ phụ thuộc vốn của các ngân hàng thương mại vào Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng Trung ương không thể chủ động được trong việc cấp phát vốn vì chỉ khi nào ngân hàng thương mại thực sự cần vốn họ mới xin tái chiết khấu, lúc Ngân hàng Trung ương mới có quyền ra quyết định của mình. Để khắc phục nhược điểm này cần kết hợp với việc sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc trong việc thực hiện tốt vai trò kiểm soát của Ngân hàng Trung ương.


1 Tiền tệ, ngân hàng, thị trường tài chính – Federic – S.Mishkin

1 . Tạp chí Ngân hàng – số 14. Tháng 7/1998.

Nguyễn Phi Long